CHỐNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM, CẦN MỘT BƯỚC ĐI THÍCH HỢP

Đến thời điểm hiện nay khái niệm "chuyển giá" không còn là mới ở Việt Nam, nhưng vấn đề là biện pháp ngăn chặn hành vi chuyển giá vẫn còn là vấn đề thời sự mà các cơ quan chức năng vẫn đang loay hoay tìm câu trả lời.
Với các chính sách ưu đãi về thuế, tài chính, trong những năm qua chúng ta đã thu hút được lượng vốn FDI , tỷ trọng đóng góp vào GDP của khối FDI cũng ngày càng cao, tuy nhiên việc kê khai, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của một số doanh nghiệp FDI còn chưa tương xứng với kỳ vọng của Nhà nước đối với khối doanh nghiệp này, hiện tượng các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ khá phổ biến, chiếm khoảng 50% tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên cả nước. Tìm hiểu thực chất của vấn đề lỗ của doanh nghiệp không hề đơn giản, nhưng cũng không thể loại trừ hành vi chuyển giá trong hoạt động tài chính của các doanh nghiệp này.
Theo thông tin từ Bộ Tài chính qua tổng kết 5 năm (2006-2010) bằng các thủ đoạn chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) gây thất thu cho ngân sách hàng ngàn tỷ đồng. Kết quả thanh tra năm 2011 tại 921 doanh nghiệp FDI lỗ và có dấu hiệu chuyển giá, Bộ Tài chính đã xử lý giảm lỗ 6.617 tỷ đồng, truy thu thuế và phạt 1.669 tỷ đồng, qua đó cơ quan Thanh tra cũng đã chỉ ra các hình thức chuyển giá qua hoạt động giao dịch liên kết như: Nâng vốn góp bằng việc nâng giá trị máy móc, thiết bị và công nghệ; bán hàng hoá, nguyên vật liệu thấp hơn nhiều so với giá bán cho các bên không có quan hệ liên kết; chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp liên kết tại Việt Nam; định giá tiền bản quyền thương hiệu cao so với giá trị thực; các tập đoàn, công ty mẹ tại nước ngoài ký hợp đồng sản xuất kinh doanh và dịch vụ với các công ty của các nước với đơn giá cao, sau đó giao lại cho công ty con tại Việt Nam theo giá do công ty mẹ quy định rất thấp; hoặc công ty mẹ thực hiện hỗ trợ vốn hoặc cho công ty con tại Việt Nam vay vốn không tính lãi…Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng cho rằng các hành vi chuyển giá của doanh nghiệp FDI không chỉ đơn thuần là điều chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuế suất thấp hơn để tránh thuế, mà còn cả chiều ngược lại.
Vậy chuyển giá là gì ? Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company) trên toàn cầu. (Theo Andrew Lymer & Jonh Hasseldine, The Internatinal Taxation System, Kluwer Academic Pblishers).
Theo Ông Nguyễn Quang Tiến - Vụ trưởng - Phó trưởng Ban Cải cách, Tổng cục Thuế thì: "Bản chất của hoạt động chuyển giá là việc lựa chọn nơi ưu đãi nhất để nộp thuế của một doanh nghiệp mà không làm trái các qui định pháp luật hiện hành".
Việt Nam đã làm gì để chống chuyển giá ?
Chuyển giá đã được các nhà hoạch định chính sách tài chính Việt Nam xác định là một vấn đề cần được quan tâm trong điều kiện xuất hiện ngày càng nhiều các dấu hiệu chuyển giá trong giao dịch có yếu tố nước ngoài. Cụ thể thông qua việc ban hành chính sách như:
- Thông tư 74/1997/TT-BTC hướng dẫn về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài, Thông tư 89/1999/TT-BTC và Thông tư 13/2001/TT-BTC, Thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 về việc ban hành hướng dẫn việc thực hiện xác định giá thị trường trong các giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết, với việc ban hành Thông tư 117/2005/TT-BTC đã hỗ trợ việc xác định lại giá giao dịch giữa các doanh nghiệp liên kết nhằm đưa giá giao dịch liên kết về đúng với giá thị trường.
- Bên cạnh đó, kể từ năm 2012 cơ quan Thuế đã có thêm "cây gậy" trong đấu tranh với hành vi chuyển giá không chỉ tại doanh nghiệp FDI mà cả các doan nghiệp trong nước thông qua việc Bộ Tài chính đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia nhằm quản lý chính sách chống chuyển giá của các DN FDI giai đoạn 2012-2015. Cùng với Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 đã được thông qua trước đó, ngành Thuế sẽ có nhiều cơ sở pháp lý hơn để đấu tranh với hành vi chuyển giá.
Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đang xây dựng các Nghị định, thông tư về cơ chế thỏa thuận, phương pháp tính giá theo Luật Quản lý thuế sửa đổi. Các quy định này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7 tới, khi đó sẽ áp dụng cơ chế giá thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) trong chống chuyển giá ở các doanh nghiệp FDI.
APA có phải là cây đũa thần ?
1. Khái niệm APA (advance pricing agreement - thỏa thuận xác định giá trước)
- Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “APA là thoả thuận giữa người nộp thuế và cơ quan thuế về một hệ thống các tiêu chí như: phương pháp xác định giá thị trường, các công ty độc lập để so sánh, các điều chỉnh cần thiết và các giả định mang tính chất quan trọng liên quan đến điều kiện kinh doanh trong tương lai nhằm mục đích xác định trước giá chuyển giao cho các giao dịch nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Một APA thường được đề xuất bởi người nộp thuế, và được thỏa thuận giữa người nộp thuế với một hoặc các bên liên kết, một hoặc các cơ quan thuế. Các thỏa thuận xác định giá trước thường bổ sung cho các cơ chế quản lý theo hành chính, pháp luật hay hiệp định truyền thống để giải quyết những vấn đề về chuyển giá. Phương pháp này rất hữu ích khi các phương pháp truyền thống khó áp dụng và thực thi”
- Rohan Phatarphekar và Hardev Singh đã định nghĩa APA một cách đơn giản như sau: “APA là một thỏa thuận giữa người nộp thuế và cơ quan thuế thống nhất về giá của hàng hóa hoặc dịch vụ của các bên liên quan. Cách tính ấy có giá trị ràng buộc người nộp thuế và cơ quan thuế”
Như vậy, bản chất của APA là cam kết thực hiện giao dịch theo những phương thức đã được tiên liệu trước và được cơ quan quản lý nhà nước về thuế chấp thuận và giá thỏa thuận trong APA chỉ có ý nghĩa để tính thuế chứ không có giá trị ràng buộc giữa người bán và người mua, không liên quan đến giá của hai bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán.
2. Phân loại APA: APA có thể được phân thành 3 loại sau:
+ Unilateral - Thỏa thuận đơn phương- đây là thỏa thuận giữa người nộp thuế/doanh nghiệp và cơ quan thuế của quốc gia đó. Loại thỏa thuận này sẽ có thể dẫn đến tình trạng trùng thuế, nên chỉ phù hợp để áp dụng đối với những giao dịch trong nước hoặc với những giao dịch liên kết, xuất nhập khẩu nhưng không có rủi ro về chuyển giá, trùng thuế, các giao dịch đơn giản...
+ Bilateral - Thỏa thuận song phương - là thỏa thuận giữa doanh nghiệp, cơ quan thuế trong nước và một cơ quan thuế nước ngoài.
+ Multilateral - Thỏa thuận đa phương - là thỏa thuận giữa doanh nghiệp, cơ quan thuế trong nước và hai hoặc nhiều cơ quan thuế nước ngoài.
3. Đặc điểm của APA:
- APA là thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, không phải là sự bắt buộc của cơ quan thuế với người nộp thuế, APA có hiệu lực với các bên tham gia.
- APA áp dụng cho những giao dịch xác định trong tương lai với một khoảng thời gian nhất định (thường không quá 5 năm).
- APA là một thoả thuận xác định trước một nhóm chỉ tiêu phù hợp để xác định giá chuyển nhượng cho các giao dịch nhất định trước khi thực hiện các giao dịch đó trong một thời kỳ nhất định.
- Sự hợp tác của người nộp thuế là yếu tố quan trọng và cần thiết để tạo sự thành công trong đàm phán APA. Khi APA được ký kết, không cần điều chỉnh giá chuyển nhượng nếu đối tượng nộp thuế tuân theo các điều khoản của thoả thuận.
- Thông thường Hiệp định về thuế quan giữa các nước có tính pháp lý cao hơn các luật trong nước về thuế, do vậy trong trường hợp luật thuế của quốc gia không quy định về APA thì cho phép áp dụng APA trên cơ sở Quy trình thoả thuận song phương.
- Cơ quan thuế cần đảm bảo rằng họ không yêu cầu đối tượng nộp thuế cung cấp thông tin nhiều hơn các nội dung bắt buộc của hồ sơ APA.
- Nếu đối tượng nộp thuế rút đơn đề nghị APA hoặc nếu hồ sơ APA của đối tượng nộp thuế bị từ chối sau khi xem xét tất cả các yếu tố, những thông tin không đáng tin cậy do người nộp thuế cung cấp sẽ không được coi là hợp lý trong bất kỳ cuộc thanh tra nào.
- Các thông tin mà người nộp thuế báo cáo cho cơ quan thuế phải được bảo mật. Cơ quan thuế nên đảm bảo tính bảo mật của những thông tin và tài liệu nhạy cảm được nộp trong quá trình thực hiện APA.
- APA nên được thực hiện trên cơ sở song phương, đa phương và không nên thoả thuận đơn phương, trừ trường hợp đã thực hiện tham chiếu đến một APA đơn phương cụ thể.
4. Một số trở ngại khi áp dụng APA
- Bản chất của APA là xác định những yếu tố quyết định để đưa ra được mức giá thị trường cho những giao dịch trong tương lai, vì thế những giả định về điều kiện kinh doanh là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, có thể thấy việc giả định về các điều kiện kinh doanh trong tương lai là điều hoàn toàn không đơn giản đặc biệt là những thay đổi về chính sách vĩ mô cũng như yếu tố tiến bộ về khoa học công nghệ.
- Hiện nay một số quốc gia có chính sách thuế xuất nhập khẩu đặc biệt ưu đãi và có trường hợp bằng 0% do đó việc lôi kéo các quốc gia này vào thảo thuận APA là đặc biệt khó khăn
- Với APA người nộp thuế phải cung cấp quá nhiều thông tin, bên cạnh đó dù có điều khoản bảo mật thông tin được đưa vào APA, nhưng doanh nghiệp vẫn không muốn tiết lộ những thông tin mật liên quan đến bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp như: quy trình công nghệ, thị trường tiềm năng.. .
- Thỏa thuận APA đơn thuần chỉ là thỏa thuận về thuế, các vấn đề kiểm tra, kiểm soát khác về tài chính, thuế, kiểm các cơ quan Nhà nước khác vẫn tiến hành.
- Áp dụng APA thì sẽ phải đào tạo một đội ngũ cán bộ thuế đủ chuyên môn để tiến hành đàm phán các APA vì khác với các phương pháp truyền thống, APA là một thỏa thuận và liên quan đến rất nhiều vấn đề về tài chính, chuyên môn kỹ thuật trong các giao dịch.
- Chi phí và thời gian để thiết lập một APA là khá lớn, tuy nhiên thời hạn sử dụng rất hạn chế.
5. Trở ngại khi áp dụng APA tại Việt Nam:
Đối với Việt Nam bên cạnh các trở ngại thông thường gặp phải của các quốc gia như đã đề cập, với đặc thù phát triển của mình Việt Nam cũng gặp một số trở ngại sau:
- Như chúng ta đã biết, việc áp dụng APA thường xuất phát từ mong muốn của đối tượng nộp thuế vối mục đích là tránh những rắc rối từ phía các cơ quan quản lý thuế, nhưng với mô hình quản lý hiện nay tại Việt Nam để có số liệu làm cơ sở ký kết thỏa thuận APA đòi hỏi cơ quan quản lý thuế sẽ phải thực hiện việc kiểm tra hoạt động tài chính của doanh nghiệp và rõ ràng không đối tượng nộp thuế nào mong muốn điều này.
- Về đội ngũ nguồn nhân lực cơ quan thuế tại Việt Nam: APA là một thỏa thuận rất phức tạp nên đòi hỏi khả năng chuyên môn cao của cán bộ thuế, chưa kể cần thiết phải có các chuyên gia trong các lĩnh vực đặc thù. Vì vậy, nếu Việt Nam muốn vận hành APA để chống chuyển giá thì cần phải tiến hành đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng để tiến hành đàm phán cũng như theo dõi trong suốt quá trình thực hiện.
- Vấn đề nguồn kinh phí để thực hiện APA: Với các nội dung thỏa thuận của mình chi phí để thực hiện tìm hiểu, ký kết hoạt thuận cũng như quản lý, theo dõi APA sẽ không nhỏ, nên đây cũng là một vấn đề trở ngại vì Ngân sách Nhà nước sẽ khó trang trải cho toàn bộ các chi phí liên quan đến các cuộc đàm phán, thỏa thuận của cơ quan thuế, ngược lại thu phí của người nộp thuế thì sẽ không thu hút sự tham gia của họ.
- Vấn đề vị thế hiện nay của Việt Nam: Như chúng ta đã biết không chỉ Việt Nam mà đối với tất cả các nước Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân khố mỗi quốc gia, việc đàm phán không thể không tránh khỏi dụng chạm đến lợi ích về thuế giữa các nước do sự đối lập, xung đột giữa mục tiêu thuế và chính sách pháp luật của các nước khác nhau. Đối với Việt Nam chúng ta, hiện là một nước đang tìm cách thu hút vốn đầu tư nước ngoài nên khó có thể "sòng phẳng" đàm phán được những thỏa thuận mang lại lợi ích tối ưu.
- Một vấn đề nữa là vấn đề bảo mật thông tin: Thông tin để xây dựng APA là cơ sở để xây dựng và đưa ra được mức giá thị trường cho những giao dịch trong tương lai, hay nói cách khác đây là thông tin liên quan đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng liệu với cơ chế quản lý hiện nay cơ quan Thuế có đảm bảo cho việc bảo mật hoàn toàn các thông tin kê khai của doanh nghiệp hay không?.
Tóm lại, việc áp dụng bất kỳ một chính sách tài chính nào cũng có mặt thuận lợi và khó khăn của nó và việc tìm hiểu, nghiên cứu để vận dụng các chính sách để tối ưu hóa việc quản lý thuế là việc làm thường xuyên của cơ quan thuế, xuất phát từ tình hình thực tế của Việt Nam và hạn chế những trở ngại của APA trong điều hành và thực thi chống chuyển giá tại Việt Nam, tôi xin kiến nghị với các cơ quan quản lý thuế như sau:
- Thứ nhất, không nên rập khuôn và áp đặt APA vào các chính sách thuế tại Việt Nam trong điều kiện chúng ta chưa thực hiện được, mà cần có lộ trình và bước đi thích hợp trong việc áp dụng APA tại Việt Nam.
- Thứ hai, nhanh chóng có khảo sát, điều tra một cách cụ thể và bài bản để có tham mưu cho Chính phủ về việc áp dụng chính sách về APA tại Việt Nam, bao gồm: nhu cầu và khả năng áp dụng cho các doanh nghiệp, chiến lược đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu thực thi, nguồn kinh phí thực hiện...
- Thứ ba, trong khi chưa có được được một biện pháp tối ưu trong việc chống chuyển giá thì các cơ quan thuế cần tham mưu để hiện hữu các cơ chế pháp lý hiện có thông qua các biện pháp:
+ Triển khai, vận dụng có hiệu quả các Hiệp định giá trị hải quan, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Nhà nước đã ký kết với các quốc gia để xác định giá hàng hóa nhập khẩu
+ Tăng cường đầu tư nguồn nhân lực nguồn lực cho việc kiểm toán, thanh tra, giám sát để chống hiện tượng chuyển giá một cách hiệu quả.  

Liên kết website